`
Trang chủ / Hướng dẫn thi công / Hướng dẫn thi công gạch nhẹ (gạch bê tông khí chưng áp - AAC)

Hướng dẫn thi công gạch nhẹ (gạch bê tông khí chưng áp - AAC)

                                                 CÔNG TY CỔ PHẨN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHỆ HƯNG VIỆT

                                HƯỚNG DẪN THI CÔNG XÂY TRÁT TƯỜNG GẠCH BÊ TÔNG KHÍ CHƯNG ÁP AAC           

Nhằm nâng cao chất lượng tường xây bằng gạch AAC, Công ty Cổ phần Thương mại và Công nghệ Hưng Việt xin gửi tới Quý khách hàng bản Hướng dẫn thi công xây trát tường gạch nhẹ  tông khí chưng áp - AAC” do Công ty sọan thảo dựa trên các tài liệu: TCVN 7959 : 2011 Bê tông nhẹ - Gạch bê tông khí chưng áp; Quyết định 947/QĐ-BXD ngày 31/10/2011 của Bộ Xây dựng v/v ban hành “Chỉ dẫn ký thuật thi công và nghiệm thu tường xây bằng blôc bê tông khí chưng áp” và kinh nghiệm thực tế mà công ty đã đúc kết được từ các công trình thực tế.

 

I. Vật liệu xây, trát

I.1. Gạch nhẹ AAC

Gạch AAC phù hợp TCVN 7959:2011. Các mác gạch thông dụng: B3 – mác 35 và B4 – mác 50. Các kích thước thông dụng: Dài 600 mm, cao 200 mm, dày (100; 150 và 200 mm).

I.2. Vữa xây, trát

Có thể sử dụng: Vữa chuyên dụng cho bê tông nhẹ theo TCVN 9028:2011 hoặc vữa xây dựng thông thường theo TCVN 4314:2003.

a) Vữa chuyên dụng (còn được gọi là vữa mạch mỏng)

Loại vữa chuyên dụng nên ưu tiên sử dụng. Vữa có chất giữ nước nên trong khoảng thời gian xây, trát vẫn giữ được độ dẻo để kết dính các viên gạch và gạch với lớp trát. Mạch vữa thường dày 3 – 5 mm, nên không tạo cầu nhiệt làm giảm tính cách nhiệt, cách âm và chống cháy của tường xây. Tường gạch AAC với vữa mạch mỏng dễ dàng mài phẳng mặt để bả và sơn (hình 1), nhờ vậy tiết kiệm được vữa trát và tăng diện tích sử dụng của các gian phòng.

                                                                      

                                                                      Hình1. Tường AAC và vữa mạch mỏng

b) Vữa thông thường

Tường gạch AAC xây, trát bằng vữa thông thường (vữa xi măng cát hoặc vữa tam hợp) có mạch vữa dày 10 – 15 mm. Do vữa không có chất giữ nước nên dễ bị gạch hút hết nước làm mất tính dính kết. Mặt khác gạch lại bị biến dạng không đều do tăng độ ẩm.

II. Dụng cụ xây tường

II.1.  Dụng cụ xây tường bằng vữa chuyên dụng: xem hình 2.  

                                                                        

                                                                                                                                                                                 Hinh 2. Dụng cụ xây tường

1. Cách khấy vữa (dùng cùng máy khoan và xô nhựa); 2. Bay răng cưa; 3. Búa cao su, 4. Thước góc (kẻ vạch và cưa gạch); 5. Bàn nạo phẳng tường, 6. Cưa gạch; 7. Dụng cụ khoét rãnh (để đặt cốt thép, đi điện, nước); Nivo (ảnh dưới).

II.2. Dụng cụ xây tường bằng vũa thông thường: Thay bay răng cưa bằng bay và dao xây như xây gạch đỏ.

II.3.  Dụng cụ trát, bả tường: Như tường xây gạch đỏ.

III. Những điểm cần chú ý khi xây, trát tường gạch AAC

Để tường xây đạt chất lượng, ít bị nứt, bị thấm cần thực hiện các yêu cầu sau:

a) Tuyệt đối không nhúng nước và tưới ướt gạch;

b) Khi dùng vữa thông thường, có thể  trộn vữa với độ chảy cao hơn khoảng 30% (so với vữa xây gạch đỏ) để vữa không bị gạch AAC hút nước làm mất nhanh tính dính kết. 

c) Gạch cần được xây kín cả mạch ngang lẫn mạch đứng;

d) Hàng gạch đầu tiên cần được đặt thăng bắng và thẳng trên lớp vữa thông thường;

đ) Hàng gạch trên xây không trùng mạch với hàng gạch dưới nó;

e) Thực hiện giữ ổn định tường như nêu tại phần IV;

f) Thực hiện giải pháp hạn chế nứt tường như nêu tại phần V;

g) Thực hiện giải pháp hạn chế thấm qua tường như nêu tại phần VI.

IV. Giữ ổn định tường

IV.1.  Cột phụ

Đối với các bức tường dày 100 mm, dài trên 3,6 m và tường dày 200 mm, dài trên 4,8 m thì nên tạo thêm cột phụ để giữ ổn định tườngtheo chiều dài. Cột phụ thường rông 15 ÷ 20 cm, dày bằng chiều dày tường, được làm bằng bê tông cốt thép cốt Ф 10 ÷ 12, đai Ф 4 ÷ 6 và được liên kết với sàn và dầm trên (hoặc giằng) qua lỗ khoan hoặc thép chờ (hình 3).

IV.2.  Giằng tường

Khi xây cao trên 3,2 m nên có giằng tường để ổn định tường theo phương đứng. Giằng thường được cáu tạo dày 10 - 12 cm, rộng bằng chiều dày tường, làm bằng bê tông cốt thép cốt Ф 10 -12, đai Ф 4 – 6 và được liên kết với cột qua lỗ khoan hoặc thép chờ (hình 3).

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            Hình 3. Cột phụ và giằng.

V. Hạn chế nứt tường

Tường xây AAC khá nhạy cảm nứt. Nguyên nhân chính gồm 2 nhóm: Co ngót của bản thân bức tường trong khung kết cấu và Lực tác động của khung kết cấu lên bức tường trong khung.

Qua đúc kết kinh nghiệm thực tế và tư vấn của các chuyên gia, chúng tôi xin cung cấp một số giải pháp cơ bản để hạn chế nứt tường gạch bê tông khí như sau:

V.1.  Giải pháp 1 - Hạn chế nứt của bản thân bức tường do co ngót

Xét riêng bức tường AAC trong một ô khung kết cấu, hiện tượng nứt thường xảy ra sau khi xây khoảng 2 - 3 tháng do co ngót (đặc biệt dễ nứt hơn khi xây bằng vữa thường), sau khi trát vữa khoảng 1 – 2 tháng (đặc biệt khi trát vữa mác 75 - 100), khi chuyển từ múa ẩm sang hanh khô, khi phòng chạy điều hòa nhiệt độ v.v..

Gạch AAC được sản xuất từ cát nghiền, chưng áp chuẩn, xuất kho ở trạng thái khô nên có độ co rất nhỏ (0,1 – 0,12 mm/m khi độ ẩm thay đổi từ 35 xuống 6%), trong khi đó gạch AAC sản xuất từ tro nhiệt điện có thể có độ co lớn hơn, khoảng 0,35 – 0,4 mm/m, vượt giá trị TCVN 7959:2011 cho phép là 0,2 mm/m. Vì vậy, khi sử dụng gạch AAC, nếu đảm bảo các điều kiện dưới đây thì về cơ bản, có thể hạn chế nứt co ngót. 

a) Tuyệt đối không dùng viên xây ướt (viên ướt sẫm màu do ngấm nước);

b) Xây bằng vữa chuyên dụng. Lượng vữa ít, có chất giữ nước nên gạch không hút được nhiều nước từ vữa để gây co – nở không đều.

c) Các rãnh điện, nước chỉ được thực hiện sau khi xây 5 – 7 ngày và không được khoét sâu quá 1/2 thân tường. Sau khi lắp đặt điện, nước, các vị trí này cần được bổ xung lưới thép và làm phẳng lại bằng vữa chuyên dụng kết hợp chèn các mảnh AAC đập nhỏ (hình 4).

                                    

                                                           Hình 4. Đặt lưới thép hoàn thiện các rãnh điện, nước

d)  Sau khi xây, tường cần được để khô (sáng đều màu) rồi mới thực hiện công tác hoàn thiện mặt. Các vết nứt trên tường (nếu có) được cắt chữ V và trát lại bằng vữa chuyên dụng;

đ) Đối với tường xây phẳng (chênh cốt dưới 4 mm), ưu tiên phương án mài phẳng và bả tường thay cho trát. Chọn loại bột bả đàn hồi, lớp bả khống chế ở mức mỏng nhất.

e) Đối với tường xây lối lóm (chênh cốt trên 4 mm), dán lưới thủy tinh (hoặc thép) trên toàn bộ mặt tường (hình 5) và trát bằng vữa chuyên dụng. Không phun nước lên mặt gạch. Hạn chế dùng vữa mác cao hơn mác gạch. Chiều dày lớp trát khống chế trung bình 5 – 6 mm.   

                                                                                                                                                                                                     Hình 5. Dán lưới thủy tính trên mặt trường trước khi trát                                                                             

 

V.2.  Giải pháp 2 - Giảm thiểu lực tác động của khung kết cấu lên bức tường

Lực tác động thường gồm: Dầm sàn bị uốn ép lên đỉnh tường; Khung kết cấu khi chuyển vị  (do tải trọng, gió, lún…) gây lực tác động lên bức tường qua các liên kết cứng. 

Lực tác động này có thể giảm thiểu bằng giải pháp chuyển liên kết cứng (ví dụ các thanh thép chờ hoặc khoan từ cột neo vào tường xây) giữa khnng và tường sang các liên kết mềm hơn thông qua các bát neo và băng keo đàn hồi.

a)  Bát neo (Lá thép neo)

- Là lá thép dày 0,7 - 0,8 mm, rộng 30 - 40 mm, dài 250 - 300 mm có lỗ như hình 6. Bát neo có tác dụng giữ bức tường trong khung, nhưng không truyền tải từ khung sang tường.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        

                                                       

                                                                    Hình 6. Bát neo tường

- Neo tường và cột:  Bát neo được bẻ thành 2 cạnh góc vông, một cạnh khoan bắt vít vào cột, cạnh kia đóng đinh gim vào mặt trên của hàng gạch xây. Xây đến đâu đóng bát neo tới đó. Cứ cách nhau 2 hàng xây (40cm) đóng một bát neo (đối với tường 100 – 150 mm) hoặc 2 bát neo (tường 200mm). Khi xây, một đầu viên gạch được ép chặt với cột qua lớp keo đàn hối (khi xây tường ngoài) hoặc tấm xốp dày 0,5 – 1 cm, rộng bằng chiều rộng bát neo (khi xây tường trong) mà không chèn vữa xây.

- Neo đỉnh tường vào dầm: Bát neo cũng được bẻ thành 2 cạnh góc vông, một cạnh khoan bắt vít vào đáy dầm (hoặc sàn), cạnh kia đóng đinh gim vào đầu viên gạch (mạch đứng) của hàng xây trên cùng. Hàng trên cùng được xây cách đáy dầm hoặc sàn khoảng 2 – 3 cm.  Xây đến đâu đóng bát neo tới đó. Cứ cách nhau 2 viên xây (120 cm) đặt một bát neo (tường 100 – 150 mm) hoặc 2 bát neo (tường 200mm). Khe hở giữa đỉnh tường và đáy dầm được để trống để chèn vữa sau khi kết thúc xây thô hoặc được chèn xốp (hình 7).

                                                  

                                   Hình 7. Hàng trên cùng chèn xốp, cách nhau 120 cm có một bát neo 

- Neo tường ngang với tường dọc

Bát neo cũng có thể được dùng để liên kết tường ngang và dọc. Khi đó, bát neo để thẳng, một nửa đóng đinh vào tường ngang, nửa kia đóng vào tường dọc (hình 8). Xây đến đâu đống neo tới đó. Cứ cách nhau 2 hàng xây (40cm), đóng một neo (tường 100 – 150 mm) hoặc 2 neo (tường 200 mm).

                                                                                          

                                                  Hình 8. Liên kết tường ngang với tường dọc

b) Băng keo đàn hồi

Các khe nối giữa cột với tường và dầm với tường sau khi xây xong được bơm keo đàn hồi (polyuretan). Để làm việc này, đối với tường không trát, dùng máy cắt xẻ rãnh rộng 4 – 6 mm, sâu 10 – 15 mm dọc theo hai bên khe nối và bơm keo đàn hối vào các rãnh xẻ.  

c) Cắt vữa trát, sơn hoặc giấy dán tại khe nối

- Đối với tường trát, cắt lớp trát tạo đường thẳng chạy dọc theo mối nối giữa cột với tường và đáy dầm với tường, bơm keo đàn hồi vào rãnh cắt;

- Sau khi sơn hoặc dán giấy, lớp sơn hoặc giấy dán cũng được cắt thành đường thẳng dọc theo các mối nối để tạo mỹ quan cho bức tường.

Ghi chú: Bản chất kỹ thuật của giải pháp này là chủ đông tạo khe biến dạng thay cho vết nứt tự phát. Các mối nối cấu tạo mềm cho phép khung chuyển vị mà không gây lực tác động lên tường. Các lớp sơn, giấy dán tại vị trí dễ bị nứt được chủ động cắt trước để không gây các vết nứt sơn hoặc rách giấy nham nhở.

VI. Hạn chế thấm qua tường gạch AAC

Nước thường thấm qua tường AAC qua các mạch xây rỗng vữa hoặc vết nứt. Ngoài ra, do có độ hút nước lớn, tường gạch AAC có thể bị ngấm nước làm giảm tính cách nhiệt của tường và tạo vết ẩm mốc.

Để hạn chế nước mưa, nước phòng vệ sinh thấm qua, tường AAC cần được thi công đảm bảo các yêu cầu sau:

a) Tường cần được xây kín các mạch vữa (cả mạch ngang lẫn mạch đứng). riêng các mạch giáp cột và đáy dầm (sàn) cần được bịt kín bàng keo đàn hồi;

b) Tuyệt đối không lắp giáo thi công xuyên qua các bức tường ngoài, tường phòng vệ sinh;

c) Thực hiện các giải pháp hạn chế nứt như mô tả chi tiết ở phần V.

d) Mặt tiếp xúc nước cần được chống thấm theo giải pháp chống thấm được khuyến cáo dưới đây (ưu tiên theo độ an toàn chống thấm):

- Sử dụng lớp cách nước riêng bằng kim loại, kính, đá ốp, gạch … gắn trên khung cách tường AAC 5 – 10 cm, tường AAC khi đó chỉ thực hiện chức năng bao che - cách nhiệt;

- Sử dụng lớp gạch mosaic (gạch vỉ) ốp lên mặt ngoài của tường. Trên mặt ốp và ở các vị trí tiếp xúc cột với tường, dầm với tường cần bồ trí khe co dãn sảm keo đàn hồi. Đối với phòng vệ sinh cần lót lớp chống thấm cho phần tường hay tiếp xúc với nước (0,3 m cách nền cho cả phòng; 2,0 m cho riêng cabin tắm), sau đó toàn bộ mặt tường được ốp gạch ceramic, khe co dãn được bố trí tại các góc giao tường với trần và tường với tường;

- Trát vữa chuyên dụng trực tiếp lên mặt tường AAC, bố trí khe co dãn sảm keo đàn hồi tại các vị trí tiếp xúc cột với tường, dầm với tường và trên mặt trát (1,5 – 2 m/khe). Sau đó mặt tường được phủ bằng sơn kỵ nước hoặc sơn chống thấm chuyên dụng.

Chú ý:

1. Tường bê tông khí là tường có nhu cầu trao đổi hơi ẩm với môi trường (còn gọi là tường thở). Vì vậy nếu mặt ngoại đã chống thấm như trên thì mặt trong tường cần dùng loại sơn, lớp bả cho phép lưu thông hơi ẩm từ trong tường ra không khí bên ngoài và ngược lại. Sơn màng kín nước dễ bị bong rộp khi sơn trên tường AAC.

2. Các móc treo vật nặng cần được định vị vào tường thông qua vít nở. Trọng lượng vật treo trên tường  gạch AAC Viglacera B3, B4 có thể đạt 250 – 300 kg khi vít treo có đường kính và độ khoan sâu thích hợp.                   

Công ty CP Thương mại và Công nghệ Hưng Việt xin trân trọng cảm ơn và mong nhận được sự góp ý của người sử dụng.

Góp ý xin gửi về địa chỉ: 

Công ty CP Thương mại và Công nghệ Hưng Việt

ĐC: Số 66 ngõ 34 phố Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội.

ĐT: 046.2929.119 - 0967.693.689 – 0941.884.762

Email: nghiemquangmanh84@gmail.com

Website: gachnheaac.com

Rất cảm ơn và mong nhận được sự đóng góp của Quý khách hàng.

Trân trọng!